Chùa Long Sơn  (Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) - xã An Bình, Vĩnh Long

Chùa Long Sơn (Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) - xã An Bình, Vĩnh Long

Đang hoạt động
Giới thiệu
Thế kỷ XIX là thời kỳ chế độ phong kiến ở nước ta suy tàn, nhân dân phải chịu cảnh lầm than khổ cực. Khi đó, thực dân Pháp tiến hành xâm l­ược nước ta (1858). Trong cảnh nước mất, nhà tan, ngư­ời nông dân mất nhà cửa, ruộng đất, gia đình ly tán, cuộc sống của nhiều người tưởng chừng vô vọng. Trư­ớc bối cảnh đó, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã ra đời như­ một “phương thuốc” cứu thế cho một bộ phận nông dân Nam bộ.

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ra đời tháng 5 năm 1867 tại Cù lao Ba (huyện An Phú, tỉnh An Giang nay thuộc Vĩnh Long, do ông Ngô Lợi sáng lập. Ông sinh tại Mỏ Cày – Bến Tre, là sỹ phu Cần Vương, tham gia khởi nghĩa ở vùng Mỹ Tho – Tiền Giang, bị giặc truy nã, ông chạy vào vùng Thất Sơn – An Giang ẩn thân.

Khi mới ra đời, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đư­ợc ông Ngô Lợi gọi là đạo Thờ ông bà, sau này tín đồ gọi đạo của mình là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Việc truyền đạo được ông Ngô Lợi thực hiện qua việc chữa bệnh, khi bệnh dịch đang hoành hành. Sau này, ông gắn việc truyền đạo với quá trình tập hợp nông dân khai hoang lập ấp, xây dựng căn cứ cách mạng. Trong quá trình ổn định cuộc sống của tín đồ ở núi Tượng, ông Ngô Lợi đã cho xây dựng chùa miếu để thực hành nghi lễ, đẩy mạnh việc truyền đạo rộng rãi ở vùng Thất Sơn và các vùng xung quanh để thu nạp tín đồ. Trong thời gian không lâu, đã có rất nhiều người đi theo ông để học đạo. Năm 1870, Ngô Lợi chính thức nhận danh hiệu Đức Bổn sư.

Hình thức và cách thức tuyên truyền, phát triển đạo của Đức Bổn sư Ngô Lợi là thể hiện nội dung “Tu nhân – học Phật” qua các bộ kinh hoặc chuyển thành các thể thơ dưới dạng Sấm vãn với lời lẽ bình dị, mộc mạc dễ nhớ và dễ đi vào lòng người, rất phù hợp với trình độ và điều kiện hoàn cảnh của nông dân lúc bấy giờ. Do đó, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa nhanh chóng được người nông dân tiếp nhận.

Sau khi ông Ngô Lợi viên tịch tại núi Tượng (1890), đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa không có người kế vị, các mối đạo đều giao cho ông Trò, ông Gánh phụ trách. Không lâu sau, một số ông Gánh rời vùng Thất Sơn đi các nơi khác truyền đạo. Vì vậy, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa hình thành hai hệ thống: Một hệ thống được duy trì ở các làng được coi là thánh địa của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa như: An Định, An Hoà, An Thành, An Lập thuộc vùng Thất Sơn – An Giang. Tín đồ ở các làng này được gọi là tín đồ nội thôn. Hệ thống thứ hai là tín đồ ở những nơi mà các ông Gánh đi truyền đạo như Kiên Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Bà Rịa – Vũng Tàu… hệ thống này được gọi là ngoại thôn.

Tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có chung niềm tin tôn giáo sâu sắc, đó là thực hiện “Tứ đại trọng ân”. Họ gọi nhau là thân bằng và có tính cộng đồng, bởi quan điểm yêu thương đồng bào đã thấm nhuần trong tư tưởng của họ. Từ khi Đức Bổn sư Ngô Lợi truyền bá đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đến trước năm 1975, số lượng tín đồ phát triển rất đông, khoảng hơn 10 vạn người. Sau giải phóng miền Nam, đời sống kinh tế, văn hoá-xã hội của tín đồ được nâng lên, nhưng nhu cầu dựa vào yếu tố tôn giáo của một bộ phận tín đồ nhạt dần, làm cho tôn giáo nội sinh này khó có thể phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động.Về văn hoá-xã hội: bà con tín đồ tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội như làm từ thiện, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo… Qua kết quả khảo sát năm 2004, tại các tỉnh có đông tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã công nhận 85% gia đình tín đồ đạt chuẩn gia đình văn hoá, nhiều gương người tốt, việc tốt, gia đình hiếu học… hàng năm được Nhà nước khen thưởng.
Thông tin liên hệ
Địa chỉ
72G6+HF8, Unnamed, Road, An Bình, Vĩnh Long, Việt Nam Xem bản đồ
Quay lại danh sách